BIẾN CHỨNG NGUY HIỂM DO ẤU TRÙNG SÁN LÁ PHỔI PARAGONIMUS WESTERMANI

BIẾN CHỨNG NGUY HIỂM DO ẤU TRÙNG SÁN LÁ PHỔI PARAGONIMUS WESTERMANI
TS.BS. Hồ Sỹ Triều
ThS. Vũ Ngọc Trung
Bệnh viện Đại học quốc gia Hà Nội
      Sán lá phổi Paragonimus Westermani dài 8-16 mm, chiều ngang 4-8 mm, dày 3-4 mm. Sán lá phổi có màu nâu đỏ rất giống hạt cà phê. Vỏ của sán lá phổi có những gai nhỏ, mồm hút phía trước có đường kính từ 1-1,4 mm, mồm hút ở bụng có kích thước tương đương với mồm hút phía trước. Các ống ruột là những ống ngoằn ngoèo. Lỗ sinh dục ở gần mồm hút phía bụng. Trứng sán lá phổi Paragonimus Westermani có nắp màu nâu sẫm, dài từ 80-100µm, chiều ngang từ 50-67µm. Ấu trùng sán lá phổi Paragonimus Westermani có hai mồm hút [1], [5], [7].
      Trứng sán lá phổi Paragonimus Westermani sau một thời gian ở dưới nước, trong trứng sán hình thành ấu trùng lông. Thời gian cần thiết để phát triển ấu trùng lông về mùa hè là 16 ngày, về mùa đông là 60 ngày. Ấu trùng lông sau khi thoát vỏ tìm đến loài ốc thuộc giống Melania để ký sinh. Có 7 loài ốc: Melania (Sulcospira), Libertia M(S) paucicinela, M(M) Goltschei, M(S) Extensa, M(S) Nodiperda M(Melanoides), Tuberculala, Melania ebenia. Sau khi chui vào ốc, ấu trùng trở thành ấu trùng đuôi. Ấu trùng chui ra khỏi ốc, bơi trong nước, tìm đến tôm và cua nước ngọt để ký sinh. Sau một thời gian từ 45-54 ngày xâm nhập vào tôm cua, nang trùng có khả năng gây nhiễm. Nang trùng vào người, chó, mèo, hổ, báo. Nang trùng tới ruột non, chui qua ống tiêu hóa, tới xoang bụng khoảng 30 ngày và sau đó xuyên qua màng phổi, từng đôi ấu trùng Paragonimus Westermani. Ở phổi, ấu trùng lớn lên từng ngày và phát triển thành sán lá phổi trưởng thành Paragonimus Westermani [8], [11], [12].
      Ấu trùng sán lá phổi Paragonimus Westermani có thể sống lý sinh trong các loài ốc, cua, tôm. Người có thể nhiễm ấu trùng sán lá phổi và các loài động vật có vú sống thuần dưỡng và hoang dại như hổ, báo, chó, sói, cáo, chồn, chuột cũng có thể nhiễm sán lá phổi. Tuổi thọ sán lá phổi có thể kéo dài 6-16 năm. Phân bố bệnh sán lá phổi có tính chất lẻ tẻ. Những người có tập quán ăn các loại tôm, cua nướng, luộc, nấu chưa chín, uống nước ốc, tôm, cua đồng nguy cơ mắc bệnh sán lá phổi Paragonimus Westermani rất cao [9], [10].
      Biến chứng nguy hiểm do sán lá phổi Paragonimus Westermani khó lường. Tại phổi có những nang sán kích thước bằng đầu ngón tay. Trong nang thường có 2 ấu trùng sán và một chất dịch màu đỏ. Cũng có trường hợp nang sán có nhiều, liên tiếp nối nhau thành chuỗi hoặc tạo thành một hốc nang lớn. Trên bệnh nhân mắc bệnh sán lá phổi Paragonimus Westermani, bệnh nhân ho có đờm lẫn máu, sau một thời gian ho trở thành mạn tính, ho nhiều vào sáng sớm. Đờm màu rỉ sắt giống viêm phổi, thỉnh thoảng ho ra máu. Ấu trùng sán lá phổi Paragonimus Westermani ký sinh ở các phủ tạng, các cơ quan, gây nên biến chứng rất đa dạng và phức tạp tùy vị trí ấu trùng ký sinh. Ấu trùng Paragonimus Westermani ký sinh ở não, gây nhức đầu, động kinh, mệt mỏi, và có thể gây tử vong đột ngột. Ở gan, gây viêm gan, apxe gan, ở phổi gây viêm phổi, viêm màng phổi, ở bụng gây viêm phúc mạc, viêm ruột, viêm tinh hoàn, ở các tổ chức dưới da xung quanh nang của sán thường có hiện tượng viêm và tăng sinh các tổ chức. Sán lá phổi có thể gây hiện tượng thay đổi tổ chức bình thường, tổ chức của những phế quản nhỏ là một tổ chức biểu bì trụ có thể chuyển thành một tổ chức biểu bì lát tầng, xung quanh nang sán thường có tổ chức xơ, xung quanh tổ chức xơ thường có nhiều bạch cầu ái toan và tế bào khổng lồ. Bệnh sán lá phổi có thể kết  hợp với bệnh lao gây bệnh rất nặng, thường có tỷ lệ tử vong cao [2], [3].
      Phòng bệnh sán lá phổi Paragonimus Westermani bằng cách quản lý tốt người bệnh; lợn, chó, mèo cũng có nguy cơ mắc bệnh sán lá phổi Paragonimus Westermani. Các loài động vật hoang dã như hổ, báo, chuột, chó, sói, chồn cũng có nguy cơ nhiễm sán lá phổi cao. Không ăn các loài tôm, cua, ốc chưa nấu chín hoặc không rõ nguồn gốc. Các loài tôm cua thường dễ nhiễm ấu trùng sán lá phổi Paragonimus Westermani là: Potamon abtusipes, P.dehaani, P.denliculatus, P.sinensis, Sesarma Eliocheir japonicus, Astacus (Cambaroides) japonicus (A.similis) và A.(cambaroides) daluricus) paratelphusa mistio [5], [6], [9].
      Biến chứng do ấu trùng sán lá phổi Paragonimus Westermanigây ra tại não, gan, phúc mạc ở bụng và các tổ chức khác ở người là rất nặng, tỷ lệ tử vong cao [2], [3], [4].
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Lê Thanh Hoà (2007) Chẩn đoán phân loại ký sinh trùng bằng các phương pháp truyền thống và sinh học phân tử. Tạp chí y học thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Hồ Sỹ Triều, Đoàn Hạnh Nguyên và cộng sự (2006). Nghiên cứu lâm sàng điều trị bệnh ấu trùng sán lợn sán dây trưởng thành và các bệnh ký sinh trùng khác trên người tại khoa khám bệnh chuyên ngành, Viện sốt rét-ký sinh trùng –côn trùng trung ương. Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học 2000-2005.
  3. Hồ Sỹ Triều, Nguyễn Văn Đề, Nguyễn Mạnh Hùng (2009). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng chính của bệnh sán dây trưởng thành gây bệnh trên người. Báo cáo khoa học của nghiên cứu sinh lần thứ XV, Đại học Y Hà Nội.
  4. Hồ Sỹ Triều, Nguyễn Mạnh Hùng (2009), Điều trị bệnh sán dây trưởng thành Taeniasis gây bệnh trên người bằng Praziquantel. Tạp chí phòng chống sốt rét và các bệnh ký sinh trùng.
  5. Nguyễn Văn Đề, Lê Khánh Thuận. Sán lá gan. Nhà xuất bản y học Hà Nội, 2004.
  6. Hoàng Tân Dân (1998). Một số ý kiến về phòng chống giun sán ở nước ta hiện nay thông tin về phòng chông sốt rét và các bệnh ký sinh trùng viện sốt rét – KST- Hà Nội.
  7. Hồ Huỳnh Thùy Dương (2001) Sinh học phân tử, Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội.
  8. Nguyễn Văn Đề, Lê Đỉnh Công (1998) Nghiên cứu bệnh sán lá, Tạp chí phòng chống sốt rét và các bệnh lý sinh trùng. Số chuyên đề về các bệnh giun sán. NXB y học Hà Nội.
  9. Hồ Sỹ Triều, Nguyễn Văn Đề và CTV (2004). Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm sán lá gan tại một số điểm trong vùng lưu hành bệnh ở miền bắc Việt Nam. Tạp chí y học thực hành số 6 (481) Bộ y tế.
  10. Hồ Sỹ Triều, Nguyễn Văn Đề, Đặng Thanh Sơn và CTV (2004). Tình hình nhiễm và thành phần sán lá gan tại một số điểm trong vùng lưu hành bệnh ở Nam Định và Ninh Bình. Tạp chí thông tin y dược số 6. Viện thông tin thư viện y học trung ương, Bộ y tế.
  11. Ichiro Miyazak An illstrasted book of Helminthis zoo notes International Medical Foundation of Japan Tokyo.
  12. Monica Chees brough District Laboratory Practice in Tropical Countries. Tropical Health technology. The Bath press Great Britain 1998.
Wallace peter and Geoffrey pasvol Tropical Medicine and Parasitology fifth edition, Mos by International Limited England, 2002. 
VIDEO
Liên kết website
Hoạt động
nothing