TÌNH HÌNH MẮC BỆNH GIUN SÁN Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM VÀ 7 TỈNH MIỀN TRUNG, TÂY NGUYÊN

TÌNH HÌNH MẮC BỆNH GIUN SÁN Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM VÀ 7 TỈNH MIỀN TRUNG, TÂY NGUYÊN
 
TS.BS.Hồ Sỹ Triều
Chuyên khoa điều trị Giun - Sán
Bệnh viện Đại học Quốc gia Hà Nội
     
      Bệnh giun – sán rất phổ biến ở Việt Nam. Hàng chục triệu người mắc bệnh giun – sán, tỷ lệ nhiễm giun sán cao ở trẻ em, học sinh, sinh viên, nông dân, người làm vườn, công nhân trực tiếp tiếp xúc với môi trường tại các nhà ga, bến xe – nơi có điều kiện sinh hoạt khó khăn, điều kiện vệ sinh lao động kém. Chúng tôi đã thực hiện các dự án Quốc gia được Tổ chức y tế thế giới (WHO) tài trợ về phòng chống bệnh giun sán ở Việt Nam và thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu về giun sán ở Việt Nam. Chúng tôi đã khám và điều trị 10 vạn bệnh nhân mắc bệnh giun sán tại Miền Bắc Việt Nam và 7 tỉnh miền trung, Tây Nguyên - Dự án Phòng chống giun sán Quốc gia do Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tài trợ [1], [2], [3].
      Bệnh giun - sán là bệnh lây truyền từ động vật, thực vật sang người. Có hàng trăm loài giun – sán gây bệnh ở người, động vật và thực vật. Ấu trùng giun – sán có thể sống ký sinh ở bất cứ vị trí nào trên cơ thể người như não, tim, phổi, gan, thận, mạch máu, bạch huyết, đầu, mặt, cổ, mắt, vùng bụng, vùng lưng, phúc mạc, dây thần kinh, tủy sống… Mọi lứa tuổi đều có thể nhiễm và mắc bệnh giun – sán, từ trẻ sơ sinh, phụ nữ có thai đến các cụ già. Biến chứng của bệnh giun – sán rất nặng nề như liệt nửa người, nhức đầu kéo dài, rối loạn tâm thần, phù não, mất khả năng nhìn, mù mắt, viêm não, xuất huyết não, phù phổi, ho ra máu, ngừng tim đột ngột, đột tử, viêm ruột, thủng ruột, viêm phúc mạc, đái ra máu, đái dưỡng chấp, phù với bệnh giun chỉ bạch huyết gây biến chứng tàn tật suốt đời [2], [3], [4].
      Bệnh giun – sán ký sinh ở gan mật, gây viêm gan, apxe gan, ung thư gan. Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, chưa có một loại thuốc đặc hiệu nào điều trị cho tất cả các bệnh giun – sán. Mỗi loại thuốc chỉ có thể điều trị cho một vài loại giun – sán nhất định. Thậm chí một loại thuốc chỉ có thể điều trị cho một loài giun – sán. Đây là khó khăn của ngành dược thế giới cũng như ngành dược Việt Nam. Thuốc Egaten của Thụy Sỹ là thuốc độc nhất để điều trị bệnh sán lá gan. Thuốc DEC là thuốc độc nhất để điều trị bệnh giun chỉ bạch huyết gây phù voi, đái dưỡng chấp.
      Theo dự án phòng chống bệnh giun – sán Quốc gia được sự tài trợ của Tổ chức y tế thế giới (WHO), chúng tôi đã khám và điều trị bệnh giun – sán cho 7 tỉnh miền Trung và Tây Nguyên. Hơn 10 vạn người gồm phụ nữ, trẻ em, học sinh, nông dân, công nhân và nhiều thành phần khác đã được khám và điều trị. Lần lượt nhiều xã, huyện thuộc nhiều tỉnh khác của miền Bắc như: Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Nam Định, Hòa Bình, Yên Bái, Bắc Giang, Hải Phòng…hàng chục vạn bệnh nhân mắc bệnh giun – sán đã được điều trị. Tỷ lệ học sinh tiểu học nhiễm giun kim rất cao từ 80-90%. Tại nhiều huyện ngoại thành Hà Nội như Đông Anh, Mỹ Đức, Ba Vì, Phú Xuyên,… tỷ lệ nhiễm giun móc, giun mỏ rất cao từ 75-85% [3], [4], [5].
      Hàng năm, chúng tôi đến các tỉnh, thành phố; trực tiếp khám và điều trị cho hàng vạn bệnh nhân mắc các bệnh giun - sán. Sau 5 năm áp dụng các biện pháp Phòng chống giun sán Quốc gia do Tổ chức y tế thế giới (WHO) tài trợ, trong đó có nội dung mỗi năm tổ chức 2 đợt tẩy giun hàng loạt cho các em học sinh tiểu học trên địa bàn toàn tỉnh Nghệ An. Huyện Quỳnh Lưu (điểm nghiên cứu) tình hình nhiễm giun đã giảm nhiều so với thời kỳ chưa triển khai các biện pháp phòng chống mà Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã hỗ trợ từ năm 2003 đến nay. Kết quả của nghiên cứu cụ thể như sau: Tỷ lệ nhiễm giun chung ở 5 xã điểm điều tra là 52%, có những đơn vị tỷ lệ nhiễm chung chỉ ở mức 37-44%. Nhiễm giun đũa 25%, có những xã chỉ nhiễm từ 10-17%, nhiễm giun tóc đang ở mức 43,2%, nhiễm giun móc chỉ có 2/340 người được xét nghiệm (<1%). Cường độ nhiễm các loại giun chung của 5 đơn vị được nghiên cứu ở mức độ nhẹ, giun đũa (epg=3.436), giun tóc (epg=145), giun móc chỉ có 2 người nhiễm ở mức độ rất nhẹ. Riêng xã Quỳnh Hưng (chưa đạt chuẩn Quốc gia về Trường-Trạm) có tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa, giun tóc cao hơn các xã đã đạt chuẩn. Nhiễm chung là 72,3%; nhiễm giun đũa 51%, giun tóc 75,4%. Cường độ nhiễm (epg) giun đũa ở mức độ trung bình (10.472); giun tóc (269) [4], [5], [6].
      Chúng tôi cũng đã khám và điều trị bệnh nhân nhiễm sán lá gan OPISTHOR CHIS VIVERRINI tại 2 tỉnh Phú Yên và Bình Định vào năm 2008. Điều tra xét nghiệm 2436 mẫu phân của 6 xã thuộc 2 huyện Phù Mỹ, Bình Định và huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên; kết quả cho thấy: tỷ lệ nhiễm sán lá gan chung của tỉnh Bình Định là 7,67%, giảm 62,49% so với năm 2003; trong đó tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở xã Mỹ Thọ là 8,98%, giảm 51,62%; Mỹ Thành 9%, giảm 18,19%; Mỹ Chánh 4,99%, giảm 84,30% so với năm 2003. Tỷ lệ nhiễm sán lá gan chung của tỉnh Phú Yên là 3,92%, giảm 83,11% so với năm 2003; trong đó, tỷ lệ nhiễm sán ở xã An Hòa là 8,29%, giảm 96,62%; An Mỹ 8,29%, giảm 70,64%; An Chấn 2,25%, giảm 81,42% so với năm 2003. Tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở nam giới cao hơn nữ giới ở cả 2 tỉnh, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,01. Lứa tuổi nhiễm sán cao nhất ở 2 tỉnh chủ yếu tử 30-50 tuổi. Cường độ nhiễm sán lá gan chung cho cả 2 tỉnh đều ở mức nhiễm nhẹ <500 trứng/1 gam phân. Sau nhiều năm can thiệp điều trị cường độ nhiễm sán lá gan đều giảm từ 46,07-97,74% [3], [4].
      Những bệnh nhân mắc các bệnh giun – sán nặng như bệnh giun lươn, giun chó mèo, sán lá gan, sán lá phổi, sán não, sán cơ,… đã được chuyển đến bệnh viện chuyên khoa giun – sán để điều trị. Trong số bệnh nhân tại cộng đồng, tỷ lệ khỏi bệnh từ 60 – 65%. Tại sao điều trị bệnh nhân nhiễm giun – sán tại cộng đồng, tỷ lệ khỏi bệnh lại thấp? Có rất nhiều nguyên nhân để lý giải câu hỏi này. Đa số bệnh nhân còn chủ quan về căn bệnh này, nhiều người cho rằng uống rượu cũng có thể khỏi bệnh hoặc không cần điều trị bệnh cũng tự khỏi. Nhiều vùng miền không đủ nước và xà phòng để rửa tay trước khi ăn. Nhiều phong tục tập quán như ăn cá sống, thịt sống, rau sống, uống nước lã. Nhiều vùng ở tỉnh Bắc Ninh có thói quen ăn tiết canh, lòng lợn, nem chua. Thói quen ăn gỏi cá như tỉnh Nam Định, Phú Yên khiến cho tỷ lệ mắc bệnh sán lá gan cao…[4], [5].
      Sau điều trị hàng loạt tại cộng đồng, tỷ lệ bệnh nhân còn giun – sán khoảng 15% dù thuốc điều trị bệnh giun – sán đã đạt tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới. Thuốc chỉ điều trị giun – sán cho những bệnh nhân mắc bệnh giun – sán nhẹ và vừa. Những bệnh nhân nhiễm nặng thì sau điều trị vẫn còn giun – sán. Nhiều bệnh nhân nhiễm giun – sán không được chỉ định điều trị tại cộng đồng như trẻ em dưới 2 tuổi, phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú, những người mắc các bệnh tim, thận, gan. Như vậy, mầm bệnh giun – sán vẫn còn tồn tại trong cộng đồng. Bệnh giun – sán tái phát nhanh, nguồn dinh dưỡng loài người cung cấp cho giun – sán ngày càng dồi dào. Điều kiện sống của các loài giun – sán gây bệnh trong cơ thể người rất thuận lợi. Mỗi con giun đũa cái trưởng thành có thể đẻ 2400 trứng/ ngày. Mỗi con giun đũa cái cũng có thể sống trong cơ thể người từ 18 – 24 tháng. Con người là môi trường lý tưởng cho tất cả các loài giun sán tồn tại, sinh trưởng và phát triển. Giun lươn có thể sinh đẻ ngay trong cơ thể người. Nếu không được điều trị hoặc điều trị không đúng cách thì giun lươn vẫn tồn tại, sinh sống theo cuộc đời con người [4], [6], [7].
      Hàng vạn bệnh nhân mắc bệnh giun – sán đã được khám và điều trị nhưng vẫn còn hàng triệu bệnh nhân mắc giun – sán và hàng vạn bệnh nhân giun – sán vẫn tiếp tục bị tái nhiễm hoặc tái phát nhiều lần. Hậu quả bệnh giun – sán gây ra rất nghiêm trọng, do đó, bệnh nhân mắc bệnh giun – sán cần được khám và điều trị kịp thời. Bệnh nhân mắc bệnh giun – sán hãy đến đúng phòng khám chuyên khoa giun – sán để được khám và điều trị kịp thời [6], [7].
TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Hồ Sỹ Triều, Đoàn Hạnh Nguyên, Đỗ Trung Dũng, Nguyễn Thị Hồng Liên và cộng sự. Điều trị bệnh ấu trùng sán lợn CYSTICERCOSIS bằng Albendazole. Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học 1996-2000. Viện sốt rét- KST-CT Trung ương. Nhà xuất bản Y học Hà Nội, 2001. 642-6.
  2. Hồ Sỹ Triều. Nghiên cứu đặc điểm nhiễm sán lá gan nhỏ và biện pháp can thiệp tại 3 xã thuộc tỉnh Nam Định. Luận văn Thạc sĩ Y học, 2004.
  3. Hồ Sỹ Triều. Nghiên cứu kiểu gen mầm bệnh, lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả điều trị bệnh sán dây và ấu trùng sán dây lợn trên bệnh nhân tại Miền Bắc Việt Nam. Luận án Tiến sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 2012.
  4. Hồ Sỹ Triều. Báo cáo kết quả thực hiện đề tài: Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng. Định loại phân tử, hiệu quả điều trị bệnh sán dây và ấu trùng sán lợn TAENIASIS/CYSTICERCOSIS trên người tại Việt Nam, 2014.
  5. Nguyễn Văn Đề, Hồ Sỹ Triều, Lê Thanh Hòa. Biểu hiện bệnh lý trong chẩn đoán ấu trùng sán lợn Cysticercosis, Tạp chí thông tin y dược số 3: 29-34, 2008.
  6. Bộ Y tế, Viện sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ương. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh giun – sán ở Việt Nam, NXB Y học Hà Nội, trang 13-17, 2006.
  7. Tài liệu tập huấn Phòng chống bệnh giun sán – Dự án Quốc gia Phòng chống giun sán. WHO-NIMPE. 2002-2003.
VIDEO
Liên kết website
Hoạt động
nothing