BỆNH QUAI BỊ VÀ VAI TRÒ CỦA SIÊU ÂM TRONG CHẨN ĐOÁN VIÊM TUYẾN NƯỚC BỌT

BỆNH QUAI BỊ VÀ VAI TRÒ CỦA SIÊU ÂM TRONG CHẨN ĐOÁN VIÊM TUYẾN NƯỚC BỌT

1. Đại cương
       Bệnh quai bị do virus paramyxovirus gây nên. Bệnh quai bị (còn được gọi là bệnh viêm tuyến mang tai dịch tễ hay viêm tuyến mang tai do virus quai bị) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây trực tiếp bằng đường hô hấp, hay gây thành dịch trong trẻ em, thanh thiếu niên do virus quai bị gây nên. Biểu hiện lâm sàng phổi biến nhất là viêm tuyến nước bọt mang tai không hóa mủ. Bệnh tuy lành tính nhưng có khả năng gây biến chứng viêm tinh hoàn ở nam giới hoặc viêm buồng trứng ở nữ giới và có thể dẫn đến vô sinh, ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng sống.Các tuyến nước bọt khác, tụy và hệ thần kinh trung ương cũng có thể bị tổn thương. Là một bệnh truyền nhiễm, thường xẩy ra vào mùa đông – xuân. Lây trực tiếp khi gần bệnh nhân nói, ho hoặc hắt hơi. Thường gặp ở trẻ nhỏ 5~8 tuổi.
       Ngoài ra cần phân biệt viêm tuyến nước bọt mang tai do sỏi, do vi khuẩn, do nhiễm độc, dị ứng …
Các tuyến nước bọt trong cơ thể

2. Nguyên nhân gây bệnh
       Bệnh có trên toàn thế giới và chỉ xuất hiện ở người. Bệnh thường hay gặp ở trẻ nhỏ và lứa tuổi vị thành niên, người lớn cũng có thể mắc nhưng tỷ lệ là thấp hơn. Bệnh do virus lây truyền qua đường hô hấp và đường ăn uống, qua những giọt nước bọt khi bệnh nhân nói, ho, hắt hơi. Vấn đề lây qua đường phân và nước tiểu hiện vẫn chưa được xác nhận dù virus quai bị có khả năng tồn tại trong nước tiểu khoảng 2-3 tuần. Khi bị nhiễm bệnh, virus nhân lên trong khoang tỵ hầu và hạch bạch huyết. Virus tăng cao trong huyết thanh khoảng 12-15 ngày sau nhiễm và lan ra các cơ quan khác. Thời gian lây là từ 6 ngày trước cơn toàn phát sưng tuyến mang tai cho đến 2 tuần sau khi có triệu chứng bệnh lý.

3. Chẩn đoán bệnh
3.1. Triệu chứng cơ năng và thực thể
•        Tuyến nước bọt mang tai hoặc dưới hàm hai bên to ra, có khi làm biến dạng mặt, mặt phình ra, cổ bạnh, cằm xệ.
•        Da vùng tuyến mang tai bị sưng căng, bóng, sờ nóng đau, và không đỏ, ấn không lõm (đối với viêm tuyến nước bọt do vi rút), và đỏ, ấn lõm (đối với viêm tuyến nước bọt do vi khuẩn).
•        Nước bọt ít, quánh.
•        Lỗ ống Stenon viêm đỏ, hoặc có mủ chảy ra khi vuốt dọc ống tuyến (trong trường hợp nguyên nhân là vi khuẩn).
•        Sưng hạch góc hàm
•        Các triệu chứng khác: Đau họng, đau hàm khi há miệng, khi nhai, nuốt, đau lan ra tai. Toàn thân có thể sốt, đau đầu, người mệt mỏi.
Hình ảnh bệnh nhân quai bị
       
       Thời gian biểu hiện bệnh lý khoảng 10 ngày. Tuy nhiên có khoảng 25% người bị nhiễm virus quai bị mà không có dấu hiệu bệnh lý rõ rệt, đây là những đối tượng có khả năng truyền bệnh mà người xung quanh không nhận biết. Bệnh quai bị gây miễn dịch bền vững khi đã mắc bệnh dù sưng 1 hay 2 bên tuyến mang tai nên ít khi bị quai bị lần 2.

3.2. Các xét nghiệm
        Xét nghiệm máu: Bạch cầu giảm, bạch cầu đa nhân trung tính giảm (đối với nguyên nhân do vi rút) và tăng (đối với nguyên nhân vi khuẩn), amylase máu và nước tiểu đều tăng.

4. Các biến chứng của quai bị
       Bệnh quai bị ở người lớn tuy ít gặp, nhưng thường nặng và có nhiều biến chứng hơn ở trẻ em. Có thể gặp các biến chứng sau:
        - Viêm tinh hoàn và mào tinh hoàn:  Biến chứng này có tỷ lệ 20-35% ở người sau tuổi dậy thì mắc bệnh quai bị, thường xảy ra sau đợt viêm tuyến mang tai khoảng 7-10 ngày nhưng cũng có thể xuất hiện trước hoặc đồng thời. Tinh hoàn sưng to, đau, mào tinh căng phù như một sợi dây thường. Tình trạng viêm và sốt kéo dài 3-7 ngày, sau đó khoảng 50% số trường hợp tinh hoàn teo dần và có thể dẫn đến tình trạng giảm số lượng tinh trùng và vô sinh.
        - Nhồi máu phổi: Là tình trạng một vùng phổi bị thiếu máu nuôi dưỡng, có thể tiến đến hoại tử mô phổi. Nhồi máu phổi là biến chứng có thể xảy ra sau viêm tinh hoàn do quai bị vì hậu quả của huyết khối từ tĩnh mạch tiền liệt tuyến.
        - Viêm buồng trứng: Có tỷ lệ 7% ở nữ sau tuổi dậy thì, ít khi dẫn đến vô sinh .
        - Viêm tụy: Có tỷ lệ 3% - 7%, là một biểu hiện nặng của quai bị. Bệnh nhân bị đau bụng nhiều, buồn nôn, có khi tụt huyết áp.
       - Các tổn thương thần kinh: Viêm não có tỷ lệ 0,5%, bệnh nhân có các hiện tượng như: thay đổi tính tình, bứt rứt, khó chịu, nhức đầu, co giật, rối loạn tri giác, rối loạn thị giác, đầu to do não úng thủy. Tổn thương thần kinh sọ não dẫn đến điếc, giảm thị lực, viêm tủy sống cắt ngang, viêm đa rễ thần kinh.
       - Bệnh quai bị ở phụ nữ có thai: Những phụ nữ bị quai bị trong 3 tháng đầu của thai kỳ có thể gây sẩy thai hoặc sinh con dị dạng, trong 3 tháng cuối của thai kỳ có thể sinh non hoặc thai chết lưu.
       - Một số biến chứng khác: Viêm cơ tim, viêm tuyến giáp, viêm tuyến lệ, viêm thần kinh thị giác (gây giảm thị lực tạm thời), viêm thanh khí phế quản, viêm phổi, rối loạn chức năng gan, xuất huyết do giảm tiểu cầu. Vì viêm tuyến mang tai còn có thể gây ra do các virus khác (Coxackie, Influenza), do vi trùng (Staphylococcus aureus), do tắc ống dẫn tuyến nước bọt vì sỏi và viêm tinh hoàn còn có thể do lao, Leptospirose, lậu nên trong một số trường hợp khó chẩn đoán, bệnh nhân cần thực hiện một số xét nghiệm như: Phân lập virus từ máu dịch họng, dịch tiết từ ống Stenon, nước tiểu hay dịch não tủy. Các phản ứng huyết thanh học: Test ELISA, miễn dịch huỳnh quang, trung hoà bổ thể.

5. Phòng bệnh và điều trị bệnh
       Đối với mọi bệnh nhân: Cách ly bệnh nhân 2 tuần kể từ lúc phát hiện bệnh, vệ sinh răng miệng, ăn những thực phẩm dễ tiêu hoá, giảm đau tại chỗ bằng cách đắp ấm vùng sưng, giảm đau toàn thân và hạ sốt bằng paracetamol. Trường hợp viêm tinh hoàn:  Mặc quần lót nâng tinh hoàn để giảm đau, nghỉ ngơi là chủ yếu, hạn chế vận động.
       Dùng corticoid đúng liều, quan trọng nhất là dùng liều lớn khi khởi đầu (60mg Prednisolon), sau đó giảm dần trong 7-10 ngày. Phẫu thuật giải áp khi tinh hoàn bị chèn ép nhiều. Chỉ định dùng thuốc và phẫu thuật do bác sỹ chuyên khoa chỉ định tùy từng bệnh nhân, tùy giai đoạn bệnh.
Vaccin phòng bệnh quai bị có tác dụng kích thích cho trẻ em sản sinh kháng thể kháng quai bị kháng thể đạt mức độ cao nhất sau khi tiêm chủng 6 – 7 tuần.  Số lần tiêm: Nếu bắt đầu tiêm từ 9 tháng tuổi: tiêm 3 lần, lần 1 lúc 9 tháng tuổi, lần 2 sau lần 1 sáu tháng, lần 3 khi trẻ từ 4-12 tuổi. Nếu bắt đầu tiêm từ 12 tháng tuổi: tiêm 2 lần, lần 1 lúc 12 tháng tuổi lần 2 từ 4-12 tuổi. Tiêm chủng khẩn cấp được chỉ định cho trẻ từ 12 tháng tuổi, trẻ vị thành niên và người lớn nếu đã có tiếp xúc với bệnh nhân quai bị nhưng chưa có tiền sử mắc quai bị và chưa được tiêm chủng theo lịch phòng bệnh quai bị. Trong trường hợp không có chống chỉ định, vaccin cần được tiêm không muộn hơn 72 giờ kể từ khi có tiếp xúc với bệnh nhân.
       Phòng bệnh quai bị thụ động với globulin miễn dịch, dùng cho người tiếp xúc với virus quai bị mà chưa được tiêm vaccin trước đó.

6. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh và vai trò của siêu âm chẩn đoán
          Có nhiều phương tiện chẩn đoán hình ảnh bao gồm siêu âm, X-quang không chuẩn bị, CT-scan và MRI. Trong đó siêu âm là phương tiện chẩn đoán đầu tay và quan trọng trong các tổn thương mô mềm vùng đầu mặt cổ. Nó có vai trò chẩn đoán xác định bệnh (tuyến nước bọt viêm) cũng như cung cấp dữ liệu cho chẩn đoán phân biệt quan trọng (phân biệt các khối u). Trong kỹ thuật này cần khảo sát toàn bộ vùng cổ để phát hiện các tổn thương kết hợp.

6.1. Phương tiện tiến hành:
- Máy siêu âm 2D, 3D – 4D, có siêu âm màu Doppler mạch máu.
- Đầu dò nông 7,5-12MHz.

6.2. Chuẩn bị bệnh nhân:
- Bệnh nhân không cần chuẩn bị.
- Tư thế bệnh nhân: Bệnh nhân nằm ngửa cổ, gối đặt dưới vai .

6.3. Hình ảnh siêu âm thường gặp trong viêm tuyến nước bọt
* Viêm tuyến nước bọt cấp
       Trong viêm cấp tính, các tuyến nước bọt thường to lên và giảm âm. Chúng có thể không đồng nhất; có thể có nhiều vùng giảm âm nhỏ hình bầu dục; và có thể có dòng máu tăng khi siêu âm màu. Các hạch bạch huyết to lên với dòng chảy trung tâm tăng cũng có thể quan sát thấy trong giai đoạn viêm cấp của các tuyến nước bọt.
[Ảnh trái] siêu âm Doppler năng lượng cho thấy tuyến dưới hàm phải bị viêm (các mũi tên) có một sỏi (đầu mũi tên), Tuyến to lên và giảm âm với các bờ phồng ra và tăng dòng chảy của mạch máu. [Ảnh phải] Ảnh siêu âm thang xám cho thấy tuyến mang tai phải (các mũi tên) bị viêm cấp ở đứa trẻ 5 tuổi. Tuyến to ra và không đồng nhất với nhiều vùng nhỏ hình bầu dục, giảm âm (các đầu mũi tên). Vị trí đầu dò siêu âm theo hình nhỏ ở góc.

* Áp xe tuyến nước bọt
       Trong viêm tuyến nước bọt (sialadenitis) cấp, có thể hình thành áp xe. Các yếu tố thuận lợi là sự mất nước và tắc ống tiết do sỏi hoặc xơ hóa. Khó có thể phát hiện áp xe khi khám lâm sàng. Nó thường biểu hiện là sưng đau tuyến nước bọt có đỏ da. Trong khoảng 70% các trường hợp không có đấu hiệu ấn lõm (fluctuation) điển hình.
Khi siêu âm, áp xe là tổn thương giảm âm hoặc trống âm có tăng âm phía sau và các bờ không rõ. Dịch hóa trung tâm có thể nhận ra dưới dạng một vùng vô mạch hoặc các mảnh lắng di động. Các chấm tăng âm do các bọt khí nhỏ có thể nhìn thấy bên trong ổ áp xe. Các ổ áp xe được tổ chức hoá có thể có một quầng tăng âm bao quanh. Siêu âm được dùng để hướng dẫn dẫn lưu.

* Viêm tuyến nước bọt mãn tính (chronic sialadenitis)
       Viêm tuyến nước bọt mãn tính đặc trưng về lâm sàng bằng sưng tuyến nhiều đợt, thường gây đau, có thể kết hợp hoặc không kết hợp với thức ăn [30]. Trong viêm mãn tính, các tuyến nước bọt có kích thước bình thường hoặc nhỏ đi, giảm âm, không đồng nhất, và thường không có tăng các dòng chảy của mạch máu trên siêu âm Doppler mầu.
       Với siêu âm, viêm tuyến nước bọt mãn tính và đôi khi cấp tính ở trẻ em, cũng như viêm tuyến nước bọt dưới hàm không có sỏi ở người lớn được mô tả là nhiều bùng nhỏ hình tròn, hình bầu dục giảm âm hoặc các tổn thương phân bố trong khắp nhu mô tuyến. Chẩn đoán phân biệt trong các trường hợp này gồm có sarcoidosis và các bệnh u hạt khác, hội chứng Sjögren, lymphoma phát tán, di căn theo đường máu, các tổn thương biểu mô bạch mạch lành tính ở các bệnh nhân HIV dương tính.
Hình ảnh siêu âm Doppler năng lượng cho thấy viêm mãn tính của tuyến dưới hàm trái (các đầu mũi tên). Tuyến không đồng nhất với đậm độ nhu mô giảm âm nhưng không tăng dòng chảy của mạch máu. Các mũi tên = sỏi.
 
7. Kết luận
            Bệnh lý viêm tuyến nước bọt là loại bệnh lí thường gặp, có thể gây thành dịch và biến chứng nhiều cơ quan trong cơ thể. Việc phát hiện bệnh và chẩn đoán, điều trị sớm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của cá nhân và cộng đồng. Siêu âm là một phương pháp đầu tay, đơn giản và dễ thực hiện ở tất cả các cơ sở y tế để chẩn đoán viêm tuyến nước bọt, góp phần chẩn đoán và điều trị bệnh sớm, ngăn ngừa các biến chứng!
BS Đinh Quang Huy
 
VIDEO
Liên kết website
Hoạt động
nothing