Các yếu tố nguy cơ tim mạch

CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ TIM MẠCH​
     Yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch (gọi tắt là yếu tố nguy cơ tim mạch) là yếu tố liên quan với sự gia tăng khả năng mắc bệnh tim mạch.
     Các yếu tố nguy cơ tim mạch bao gồm những yếu tố không thể thay đổi được (như tuổi, giới, di truyền) và các yếu tố có thể thay đổi được (như tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, đái tháo đường,...).

1. Các yếu tố không thay đổi được
     Tuổi: Nguy cơ xảy ra biển cố tim mạch gia tăng khi tuổi đời cao hơn. Trên 50% số người đột quỵ liên quan đến bệnh lý tim mạch và 80% số chết vì đột quỵ xảy ra ở độ tuổi trên 65. Tuổi già là điều không thể tránh được, tuy nhiên việc ăn uống điều độ, sinh hoạt hợp lý và duy trì một lối sống lành mạnh sẽ góp phần làm chậm lại quá trình thoái hoá do tuổi gây ra.
      Giới: Nam giới có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch cao hơn so với nữ giới. Tuy nhiên, sau khi mãn kinh, nguy cơ mắc bệnh tim mạch ở nữ giới sẽ gia tăng nhanh chóng, bắt kịp, thậm chí có xu hướng vượt qua nam giới. Bệnh lý tim mạch ở nữ giới cũng thường nặng hơn, có tỷ lệ tử vong cao hơn, song lại thường bị bỏ sót và đến muộn hơn so với nam giới.
      Yếu tố gia đình (di truyền) cũng rất quan trọng: nguy cơ mắc bệnh tim mạch sẽ gia tăng nếu trong gia đình đã có người mắc bệnh tim mạch sớm (dưới 55 tuổi).

2. Các yếu tố có thể thay đổi được
      Các yếu tố có thể thay đổi được gồm có 9 yếu tố chính: tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, đái tháo đường, thừa cân béo phì, hút thuốc lá, uống nhiều rượu, ăn ít rau quả, lối sống căng thẳng, ít hoạt động thể lực; và nhiều yếu tố nguy cơ khác. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh: 90% các biến cố tim mạch như nhồi máu cơ tim cấp hoặc tai biến mạch não đều liên quan đến 9 yếu tố nguy cơ chính vừa được nêu trên.
      Tăng huyết áp
      Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ tim mạch được chú ý nhiều nhất. Gọi là tăng huyết áp khi số đo huyết áp tâm thu lớn hơn hoặc bằng 140mmHg và/hoặc số đo huyết áp tâm trương lớn hơn hoặc bằng 90 mmHg. Cả hai số đo huyết áp tâm thu và tâm trương đều là những yếu tố nguy cơ tim mạch, tuy nhiên số đo huyết áp tâm thu được xem là yếu tố dự báo quan trọng hơn đối với nguy cơ xuất hiện các biến chứng do tăng huyết áp nhất là tai biến mạch não.
      Tăng huyết áp thường kết hợp với các yếu tố nguy cơ tim mạch khác như béo phì, rối loạn lipid máu, đái tháo đường... Trong các rối loạn, một rối loạn này có thể là nguy cơ của rối loạn khác và ngược lại. Kiểm soát thành công tăng huyết áp làm giảm rõ rệt nguy cơ xảy ra các biến chứng. Cho dù kết quả điều trị tăng huyết áp phụ thuộc vào việc dùng thuốc nhưng các biện pháp khác như giảm cân nặng, hạn chế muối và tập luyện cũng góp phần đáng kể làm giảm huyết áp của bạn.
     Tăng cholesterol trong máu và các rối loạn lipid máu
      Rối loạn lipid máu hay tăng hàm lượng các chất mỡ trong máu là một trong những yếu tố nguy cơ tim mạch quan trọng nhất, thường gặp và liên quan mật thiết đến bệnh xơ vữa gây hẹp, tắc động mạch vành. Cholesterol máu có nhiều dạng khác nhau, như HDL-C (cholesterol tốt tác dụng giảm xơ vữa), LDL-C (cholesterol xấu làm gia tăng xơ vữa động mạch). Để giảm nguy cơ xơ vữa và dự phòng các biến cố tim mạch, cần duy trì nồng độ cholesterol toàn phần ở mức dưới 200 mg/dL (5,17mmol/L), LDL-C dưới 130 mg/dL (3,34 mmol/L) và HDL-C trên 40 mg/dL (1,03 mmol/L), cũng như triglycerid dưới 150 mg/dL (1,73 mmol/L). Người đã có bệnh tim mạch thậm chí cần hạ mỡ máu tích cực hơn (có thể dùng các thuốc thuộc nhóm statin) để dự phòng biến chứng.
      Mặc dù chịu ảnh hưởng bởi tuổi (lượng cholesterol toàn phần tăng theo tuổi), giới (phụ nữ thường có lượng HDL cao hơn) hay yếu tố di truyền, các rối loạn lipid máu vẫn có thể thay đổi đáng kể khi ta điều chỉnh tích cực lối sống. Chế độ ăn ít cholesterol và mỡ bão hoà có thể làm giảm lượng cholesterol trong máu. Giảm lượng rượu uống hàng ngày và giảm số cân dư thừa làm hạ thấp đáng kể lượng triglycerid trong máu. Bỏ thuốc lá, tập luyện thường xuyên cũng làm giảm triglycerid và tăng lượng HDL-C.
     Hút thuốc lá, thuốc lào
      Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc các bệnh mạch vành, tai biến mạch não, hẹp động mạch ngoại vi... dù người hút thuốc thường gầy và có huyết áp thấp hơn người không hút thuốc. Nguy cơ đột tử của người hút thuốc lá cao gấp 10 lần so với người không hút ở nam và gấp 5 lần ở nữ giới. Trên thực tế, 30-40% các trường hợp chết vì bệnh mạch vành có nguyên nhân từ hút thuốc lá.
      Nguy cơ mắc bệnh tim mạch sẽ giảm dần ngay sau khi ngừng hút thuốc, kể cả khi đã hút nhiều và lâu năm. Nếu tiếp tục ngừng hút, mức độ nguy cơ sẽ dần dần thấp gần như tương đương với mức ở người chưa từng hút thuốc. Hút thuốc lá chứa lượng nicotin thấp không làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Hơn thế nữa, nhiều người khi sử dụng loại thuốc này có xu hướng hút nhiều hơn và hít vào sâu hơn, tăng mức độ tiếp xúc với các chất độc hại trong khói thuốc và gây nhiều hậu quả nghiêm trọng hơn.
      Lối sống tĩnh tại
       Lối sống ít vận động là một trong những nguy cơ tim mạch chính gây ra các biến cố tim mạch. Tập luyện thể lực thường xuyên làm giảm nguy cơ xuất hiện nhồi máu cơ tim đồng thời nâng cao khả năng sống sót khi xảy ra nhồi máu cơ tim. Tập luyện cũng có tác động tích cực tới các yếu tố nguy cơ khác như giảm cân, tránh béo phì, giảm stress...
      Uống nhiều rượu
       Nếu sử dụng điều độ, không quá 1 đến 2 chén mỗi ngày, rượu có thể giúp ngăn ngừa xơ vữa động mạch và bệnh mạch vành. Nhưng uống quá nhiều rượu lại làm tăng nguy cơ xuất hiện các biến cố tim mạch do làm tăng huyết áp, tăng nguy cơ tổn thương gan, biến chứng não (nhất là xuất huyết não) và một số bệnh lý tim mạch khác
  
Thừa cân/béo phì
       Béo phì ở các mức độ khác nhau đều làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Béo phì có thể tác động tới sự hình thành một số yếu tố nguy cơ tim mạch khác - tiền đề cho xơ vữa động mạch - như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu hay đề kháng insulin.
       Có hai dạng béo phì: dạng thứ nhất, mỡ thừa thường tập trung tại vùng bụng, thường gặp ở nam giới (gọi là “bụng bia” hay béo phì dạng quả táo); dạng thứ hai có sự tích lũy mỡ nhiều ở vùng mông và đùi, thường gặp ở phụ nữ (béo phì dạng quả lê). Béo bụng làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đặc biệt là xơ vữa gây hẹp mạch vành và tai biến mạch não cũng như gia tăng chính các yếu tố nguy cơ tim mạch quan trọng khác như tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, giảm dung nạp đường và đái tháo đường.
      Tốt nhất, nam giới nên duy trì vòng bụng dưới 90 cm, không vượt quá 90% chu vi vòng mông; nữ giới nên cố gắng duy trì vòng bụng dưới 80cm và không vượt quá 80% chu vi vòng mông.
     Đái tháo đường và kháng insulin
      Người mắc đái tháo đường được coi là có khả năng xuất hiện các biến cố tim mạch tương đương với một người đã mắc bệnh mạch vành. Ngay cả khi lượng đường trong máu chỉ mới tăng nhẹ thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch cũng cao hơn người bình thường. Những người đái tháo đường týp 2 (xuất hiện ở tuổi trung niên, khác với týp 1 thường xuất hiện sớm ở người trẻ) thường có nồng độ insulin trong máu cao (còn gọi là tình trạng kháng insulin), thúc đẩy tăng huyết áp và tăng lắng đọng cholesterol vào mảng vữa xơ động mạch, thúc đẩy quá trình xơ vữa và các biến chứng của nó. Ngoài việc sử dụng thuốc để kiểm soát đường máu, giảm cân và tập luyện thể lực thường xuyên thúc đẩy quá trình sử dụng đường trong máu và giúp ngăn ngừa hoặc làm chậm lại sự xuất hiện của bệnh đái tháo đường.
     
3. Điều chỉnh các yếu tố nguy cơ tim mạch thế nào để ngăn ngừa nhồi máu cơ tim, đột quỵ và các biến chứng khác của xơ vữa động mạch?
     Trước tiên, cùng với sự giúp đỡ của thầy thuốc, cần đánh giá nguy cơ tim mạch của mỗi người là thấp hay cao dựa vào các câu hỏi (như “Bạn có hút thuốc? Bạn có thừa cân? Bọn có uống quá nhiều rượu? Có ai trong gia đình bạn mắc bệnh tim mạch hay tăng huyết áp?”...) cũng như khám xét (đo huyết áp, cân nặng, vòng bụng, vòng mông...) và các xét nghiệm (đánh giá rối loạn lipid máu, đường máu). Bằng việc kết hợp tất cả các thông tin thu được về các yếu tố nguy cơ tim mạch chính, thầy thuốc sẽ giúp chúng ta xác định được tổng cộng khả năng (nguy cơ tổng thể) xuất hiện các biến cố tim mạch, từ đó đề xuất biện pháp thích hợp (thay đổi lối sống, chế độ ăn, dùng thuốc...) để kiểm soát huyết áp, thành phần lipid máu và đường máu.
     Dưới đây là những lời khuyên đơn giản, cần thiết và hữu ích cho tất cả mọi người dù chưa hay đang có các yếu tố nguy cơ tim mạch:
     - Thực hiện chế độ ăn uống có lợi cho hệ tim mạch: tăng cường rau xanh, quả tươi, thức ăn giàu chất xơ và protein thực vật; hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và acid béo no (nội tạng, mỡ động vật...); ăn nhạt (<3.8 gam muối hay 1,5 gam [65 mmol] natri mỗi ngày). Đa số chúng ta ăn nhiều muối hơn lượng cơ thể chúng ta cần. Nhiều thức ăn tự nhiên đã chứa muối hoặc muối đã được thêm vào trong quá trình chế biến.
     - Tích cực giảm cân (nếu thừa cân), duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối cơ thể - BMI (bằng cân nặng tính theo kg chia cho chiều cao bình phương tính theo mét) từ 18,5 đến 22,9 kg/m2. Cố gắng duy trì vòng bụng dưới 90 cm ở nam và dưới 80 cm ở nữ.
     - Nếu uống rượu, hãy vừa phải: số lượng < 2 cốc chuẩn/ngày, tổng cộng không quá 14 cốc chuẩn/tuần (nam) hoặc 9 cốc chuẩn/tuần (nữ). Một cốc chuẩn chứa 13,6g ethanol tương đương với 355ml bia (5%) hoặc 148ml rượu vang (12%), hoặc 44ml rượu mạnh (40%).
     - Nếu hút thuốc, hãy ngừng ngay, ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá, thuốc lào.
    - Bắt đầu một chương trình tập luyện thể dục. Tập luyện đều đặn có lợi cho tất cả mọi người. Hãy chọn một phương pháp phù hợp với sở thích, thời gian và khả năng của mình. Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp, đều đặn khoảng 30-60 phút mỗi ngày, 4-7 ngày/tuần.
     - Học cách tránh lo âu, căng thẳng thần kinh; cần thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý.
    - Đi khám bệnh định kỳ để đánh giá mức độ nguy cơ của bạn. Nếu phải dùng thuốc để kiểm soát huyết áp, rối loạn mỡ máu hay đường máu, hãy đảm bảo uống thuốc lâu dài, đúng, đủ liều, đều đặn và theo dõi định kỳ để hiệu chỉnh liều thuốc phù hợp với tiến triển của bệnh.
VIDEO
Liên kết website
Hoạt động
nothing