Chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp

CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP

 
1
Đại cương
     
Tăng huyết áp (THA) rất thường gặp ở người trưởng thành và là yếu tố nguy cơ hàng đầu của các bệnh không lây nhiễm gây tử vong ở các nước phát triển và đang phát triển.
     Tại Việt Nam, tần suất tăng huyết áp ở người lớn ngày càng gia tăng. Theo điều tra gần đây nhất (2008) của Viện Tim mạch Việt Nam tiến hành ở người lớn (≥ 25 tuổi) tại 8 tỉnh, thành phố của nước ta thì thấy tỷ lệ tăng huyết áp đã tăng lên 25,1%, nghĩa là cứ 4 người lớn ở nước ta thì có 1 người bị tăng huyết áp. Trong số những người bị tăng huyết áp, có tới 52% (khoảng 5,7 triệu người) là không biết mình bị tăng huyết áp; 30% (khoảng 1,6 triệu người) của những người đã biết bị tăng huyết áp nhưng vẫn không có một biện pháp điều trị nào; và 64% những người đó (khoảng 2,4 triệu người) tăng huyết áp đã được điều trị nhưng vẫn chưa đưa được huyết áp về số huyết áp mục tiêu. Như vậy hiện nay Việt Nam có khoảng 9,7 triệu người dân hoặc là không biết bị tăng huyết áp, hoặc là tăng huyết áp nhưng không được điều trị hoặc có điều trị nhưng chưa đưa được số huyết áp về mức bình thường.
     Tăng huyết áp nếu không được điều trị đúng và đầy đủ sẽ có rất nhiều biến chứng nặng nề, thậm chí có thể gây tử vong hoặc để lại các di chứng ảnh hưởng đến sức khỏe, sức lao động của người bệnh và trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Một số biến chứng chính của tăng huyết áp như:
     Các biến chứng về tim: Cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, suy tim…
     Các biến chứng về não: Xuất huyết não, nhũn não, bệnh não do THA…
     Các biến chứng về thận: Đái ra protein, phù, suy thận…
     Các biến chứng về mắt: Mờ mắt, xuất huyết, xuất tiết và phù gai thị.
     Các biến chứng về mạch máu: Phình hoặc phình tách thành động mạch, các bệnh động mạch ngoại vi…

THA được gọi là "kẻ giết người thầm lặng” vì:
     Thứ nhất, THA là một vấn đề rất thường gặp trong cộng đồng. Tỷ lệ người mắc THA ngày càng tăng và tuổi bị mắc mới cũng ngày một trẻ
     Thứ hai, THA đã và đang trở thành yếu tố nguy cơ hàng đầu của các biến chứng tim mạch
     Thứ ba, đại đa số các bệnh nhân bị THA (trên 90%) thường không có các dấu hiệu cảnh báo trước. Quan điểm trước đây cho rằng cứ THA là phải có đau đầu, mặt bừng đỏ, béo... là hết sức sai lầm. Nhiều khi, sự xuất hiện triệu chứng đau đầu đã có thể là sự kết thúc của người bệnh THA do đã bị tai biến mạch não.
     Thứ tư, THA ở người lớn đại đa số là không có căn nguyên (còn gọi là THA nguyên phát). Chỉ một số nhỏ (dưới 5%) là THA có căn nguyên (tức là do hậu quả của một số bệnh lí khác).
     Thứ năm, mặc dù THA đã được chứng minh sự nguy hiểm như vậy, nhưng ngay cả tới hiện nay, THA vẫn tồn tại như là một "bộ ba nghịch lý" đó là:
     THA là bệnh rất dễ phát hiện (bằng cách đo khá đơn giản) nhưng người ta lại thường không biết mình bị THA từ bao giờ.
     THA là bệnh điều trị được nhưng số người được điều trị không nhiều.
     THA là bệnh có thể khống chế được với mục tiêu mong muốn nhưng số người mắc dù được điều trị đạt mục tiêu cũng không nhiều. Và do vậy, đã rất nghiều người bệnh cho đến khi bị các biến chứng của THA, thậm chí tử vong mới biết mình bị THA hoặc mới hiểu rõ việc khống chế tốt THA là quan trọng như thế nào.

2. Thế nào là Tăng huyết áp?
     Theo khuyến cáo của Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam về chẩn đoán và điều trị Tăng huyết áp:
     Chẩn đoán theo HA phòng khám và HA ngoại trú
     (HA tại nhà hoặc HA liên tục ban ngày)

 
     
Chẩn đoán THA HA phòng khám (mmHg)
HATT < 140 và HATTr  < 90 HATT > 140 hoặc HATTr >  90
HA tại nhà hoặc HA liên tục ban ngày (mmHg) HATT < 135 hoặc HATTr < 85 HA bình thường thực sự THA áo choàng trắng
HATT > 135 hoặc HATTr > 85 THA ẩn dấu THA thật sự

     Định nghĩa và phân độ THA theo mức HA đo tại phòng khám (mmHg)
Phân loại HA tâm thu
(mmHg)
HA tâm trương
(mmHg)
Tối ưu < 120 < 80
Bình thường 120-129 80-84
Bình thường cao 130-139 85-89
Tăng huyết áp độ 1 (nhẹ) 140-159 90-99
Tăng huyết áp độ 2 (trung bình) 160-179 100-109
Tăng huyết áp độ 3 (nặng) > 180 > 110
Tăng huyết áp tâm thu đơn độc > 140 < 90
Tiền THA là kết hợp HA bình thường và bình thường cao, nghĩa là HATT từ 120 đến 139 mmHg và HATTr từ 80-89 mmHg
 
 
     Khi HATT và HATTr nằm hai mức độ khác nhau, chọn mức độ cao hơn đã phân loại. THA tâm thu đơn độc cũng được đánh giá theo mức độ 1, 2, 3 theo giá trị HATT nếu HATTr <90 mmHg
     Phác đồ chẩn đoán THA theo các kỹ thuật đo HA
3. Nguyên nhân Tăng huyết áp là gì?
     Phần lớn tăng huyết áp ở người trưởng thành là không rõ nguyên nhân (THA nguyên phát), chỉ có khoảng 5% các trường hợp là có nguyên nhân (THA thứ phát).

4. Vậy làm thế nào để biết mình bị THA?
     Chỉ có một cách duy nhất, đơn giản và dễ thực hiện để biết có bị THA hay không là đo huyết áp định kỳ. Đo huyết áp cần được thực hiện ít nhất mỗi năm một lần với người dưới 40 tuổi, và 6 tháng/lần với những người từ 40 tuổi trở lên. Mỗi người cần biết rõ số đo huyết áp như số tuổi của mình.
    Đo huyết áp có thể được thực hiện tại bệnh viện, phòng khám hoặc tại nhà. Máy đo huyết áp có thể là loại máy đo cột thủy ngân, máy đo loại đồng hồ hay máy đo tự động. Tuy nhiên, tốt nhất nên sử dụng loại băng đo huyết áp cuốn ở cánh tay. Nếu đo tại nhà, cần thực hiện đúng chỉ dẫn của bác sĩ, hướng dẫn của nhà sản xuất máy và cần phải biết cách đo huyết áp đúng.


5. Đo huyết áp thế nào là đúng?    
     Để đo được con số huyết áp chính xác, cần tuân thủ một số điểm như sau:
     - Ngồi nghỉ trước khi đo ít nhất 5-10 phút, trong phòng yên tĩnh.
     - Không dùng chất kích thích (cà phê, hút thuốc) trước khi đo 2 giờ.
     - Tư thế đo: ngồi tựa vào lưng ghế, cánh tay duỗi thẳng trên bàn, nếp khuỷu ngang mức với tim. Có thể đo thêm ở tư thế nằm. Đối với người cao tuổi hoặc có bệnh đái tháo đường, nên đo thêm tư thế đứng nhằm xác định có “hạ huyết áp tư thế” hay không.
     - Sử dụng huyết áp kế với bao hơi có bề dài bằng 80%; bề rộng bằng 40% chu vi cánh tay. Quấn băng đủ chặt, bờ dưới của bao đo ở trên nếp lằn khuỷu 2cm. Đặt máy ở vị trí thích hợp sao cho máy hoặc mốc 0 của thang đo ngang mức với tim.
     - Nên đo huyết áp ít nhất hai lần, mỗi lần cách nhau 1-2 phút. Nếu số đo huyết áp giữa 2 lần đo chênh nhau trên 10mmHg, cần đo lại lần 3 sau khi đã nghỉ trên 5 phút. Lần đo huyết áp đầu tiên, nên đo huyết áp ở cả hai tay.
     - Huyết áp tâm thu tương ứng với lúc xuất hiện tiếng đập đầu tiên và huyết áp tâm trương tương ứng với khi mất hẳn tiếng đập.
     - Trường hợp nghi ngờ, có thể tới các phòng khám chuyên khoa để được theo dõi huyết áp liên tục bằng máy đo tự động trong 24 giờ (Holter huyết áp).


6. Điều trị THA
6.1. Nguyên tắc chung
     THA là bệnh mạn tính nên cần theo dõi đều, điều trị đúng và đủ một cách liên tục (lâu dài, suốt đời).
     Mục tiêu điều trị là “đạt huyết áp mục tiêu và giảm tối đa nguy cơ tổng thể xuất hiện các biến cố”.
    Huyết áp mục tiêu cần đạt là dưới 140/90mmHg. Khi đạt huyết áp mục tiêu , cần tiếp tục duy trì phác đồ điều trị lâu dài kèm theo việc theo dõi huyết áp chặt chẽ, thường xuyên để chỉnh liều thuốc kịp thời.
    Điều trị cần hết sức tích cực ở bệnh nhân đã có tổn thương cơ quan đích (các cơ quan đích quan trọng là tim, thận, mắt, não). Không nên hạ huyết áp quá nhanh để tránh biến chứng thiếu máu ở các cơ quan đích trừ tình huống cấp cứu.
    Căn cứ theo từng bệnh cảnh và cơ địa bệnh nhân cụ thể, người thầy thuốc sẽ đưa ra phương thức điều trị hợp lý nhất cho người bệnh.
 
6.2. Các biện pháp tích cực thay đổi lối sống
     Đây là các biện pháp không thể thiếu mà mọi bệnh nhân cần phải thực hiện để đạt được huyết áp mục tiêu và giảm số thuốc cần dùng. Cụ thể là:
     - Chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ kali và các yếu tố vi lượng: Ăn nhạt (dưới 100mmol Natri/ngày); tăng cường rau xanh, hoa quả tươi; hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và acid béo no.
      - Tích cực giảm cân (nếu thừa cân), duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối cơ thể (BMI) từ 20 đến 25 kg/m2. Sẽ giảm 5-10 mmHg khi giảm mỗi 10kg.
      - Cố gắng duy trì vòng bụng dưới 90cm ở nam và dưới 80cm ở nữ.
     - Hạn chế uống rượu, bia: Dưới 3 cốc/ngày với nam và 2 cốc/ngày với nữ, tổng cộng dưới 14 cốc/tuần (nam) và 9 cốc/tuần (nữ). Một cốc tiêu chuẩn chứa 13,6g ethanol tương đương với 355 ml bia(5%) hoặc 148 ml rượu vang (12%) hoặc 44 ml rượu mạnh (40%).
      - Ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá, thuốc lào. Cần hết sức quyết tâm và cương quyết bỏ thuốc.
      - Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp (tập thể dục, đi bộ, cầu lông...), đều đặn khoảng 30 - 60 phút mỗi ngày, 5 đến 7 ngày/tuần. Với bệnh nhân có triệu chứng hoặc nguy cơ bệnh mạch vành cần phải làm nghiệm pháp gắng sức trước khi quyết định cho bệnh nhân chế độ tập luyện thể lực.
      - Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh; cần thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý.
      - Tránh bị lạnh đột ngột.
      - Khám sức khỏe định kỳ và điều trị các yếu tố nguy cơ khác.
6.3. Điều trị THA bằng thuốc
     Có rất nhiều loại thuốc khác nhau có tác dụng giúp hạ huyết áp, bảo vệ các cơ quan đích. Tùy tình trạng bệnh mà mỗi bệnh nhân thầy thuốc sẽ chỉ định một loại thuốc hoặc phối hợp các thuốc khác nhau.
7. Theo dõi và đánh giá kết quả điều trị
     Điều trị đạt kết quả tốt là khi đạt được huyết áp mục tiêu và ngăn ngừa được các biến chứng tim mạch cũng như tổn thương cơ quan đích (đột quỵ, sa sút trí tuệ, phì đại thất trái, suy tim, nhồi máu cơ tim, cơn đau thắt ngực, bệnh mạch máu ngoại vi, xuất huyết hoặc xuất tiết võng mạc, phù gai thị, suy thận...).
     Vì vậy, ngoài việc theo dõi thường xuyên con số huyết áp, người bệnh cần được định kỳ kiểm tra một số xét nghiệm như: Phân tích nước tiểu (albumin niệu và tế bào niệu); xét nghiệm sinh hoá máu (đường máu; lipid máu; điện giải máu - đặc biệt là kali; acid uric máu; creatinine máu), xét nghiệm huyết học (hemoglobin, hematocrit); điện tâm đồ, siêu âm Doppler tim, siêu âm Doppler mạch cảnh nhằm đánh giá tổng thể và chi tiết hơn với các mục tiêu là:
     - Phát hiện tổn thương cơ quan đích.
     - Loại trừ các nguyên nhân gây THA thứ phát.
     - Đánh giá các yếu tố nguy cơ tim mạch khác. Trên cơ sở đó điều chỉnh chiến lược điều trị và huyết áp mục tiêu.
    - Tối ưu phác đồ điều trị THA: dựa vào các chỉ định bắt buộc hoặc ưu tiên của từng nhóm thuốc hạ áp trong các thể bệnh cụ thể. Phối hợp nhiều thuốc để tăng khả năng kiểm soát huyết áp, giảm tác dụng phụ và tăng việc tuân thủ điều trị của người bệnh.
     - Điều trị các bệnh phối hợp và điều trị dự phòng (tiên phát và thứ phát) ở nhóm có nguy cơ tim mạch cao hoặc rất cao.

8. Phòng bệnh THA
     Các biện pháp thay đổi lối sống tích cực cũng chính là những biện pháp để phòng THA ở người trưởng thành.
    Nâng cao nhận thức và hiểu biết về bệnh THA, biến chứng của THA và các yếu tố nguy cơ tim mạch khác... sẽ giúp mỗi chúng ta phòng chống và điều trị thành công THA.
VIDEO
Liên kết website
Hoạt động
nothing