ĐAU THẮT NGỰC ỔN ĐỊNH HAY BỆNH TIM THIẾU MÁU CỤC BỘ MẠN TÍNH

ĐAU THẮT NGỰC ỔN ĐỊNH HAY BỆNH TIM THIẾU MÁU CỤC BỘ MẠN TÍNH
1. Đại cương
     Bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn tính còn gọi là Đau thắt ngực ổn định (ĐTNÔĐ) hoặc Bệnh động mạch vành ổn định. Đây là bệnh lý thường gặp nhất ở các nước phát triển và có xu hướng gia tăng rất mạnh ở các nước đang phát triển với gánh nặng bệnh tật và chi phí chăm sóc rất lớn.
     Đau thắt ngực ổn định là đau ngực khi gắng sức, cơn đau ngắn, đỡ khi nghỉ hoặc dùng nitrates. Đau thắt ngực ổn định là sự ổn định của mảng xơ vữa động mạch vành.
     Trong quá trình phát triển của mảng xơ vữa, một số trường hợp có thể có những lúc có biến cố cấp tính (do nứt mảng xơ vữa) gây hẹp hoặc tắc lòng mạch một cách nhanh chóng thì gọi là Hội chứng vành cấp (acute coronary syndrom) (bao gồm: Đau thắt ngực không ổn định, Nhồi máu cơ tim ST chênh lên và Nhồi máu cơ tim ST không chênh). Ngược lại một bệnh nhân có Hội chứng vành cấp được điều trị ổn định thì lại coi là Bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn tính hay đau thắt ngực ổn định.
2. Dấu hiệu nhận biết Cơn đau thắt ngực ổn định
      Vị trí: thường ở sau xương ức và là một vùng (chứ không phải một điểm), đau có thể lan lên cổ, vai, tay, hàm, thượng vị, sau lưng. Hay gặp hơn cả là hướng lan lên vai trái rồi lan xuống mặt trong tay trái, có khi xuống tận các ngón tay út và áp út.
      Hoàn cảnh: thường xuất hiện khi gắng sức, xúc cảm mạnh, gặp lạnh, sau bữa ăn nhiều hoặc hút thuốc lá. Một số trường hợp cơn đau thắt ngực có thể xuất hiện về đêm, khi thay đổi tư thế hoặc khi kèm cơn nhịp nhanh.
      Tính chất: Hầu hết các bệnh nhân mô tả cơn đau thắt ngực như thắt lại, bó nghẹt, hoặc bị đè nặng trước ngực và đôi khi cảm giác buốt giá. Trong một số y văn đau thắt ngực mô tả như con voi giẫm lên ngực. Một số bệnh nhân có khó thở, mệt lả, đau đầu, buồn nôn, vã mồ hôi.
      Cơn đau: thường kéo dài vài phút (3 đến 5 phút), có thể dài hơn nhưng thường không quá 20 phút (nếu đau dài hơn và xuất hiện khi nghỉ cần nghĩ đến Cơn đau thắt ngực không ổn định hay nhồi máu cơ tim). Những cơn xảy ra do xúc cảm thường kéo dài hơn là đau do gắng sức. Những cơn đau mà chỉ kéo dài dưới 1 phút thì nên nghĩ đến nguyên nhân khác ngoài tim.
     Một số trường hợp đau thắt ngực ổn định có thể không biểu hiện rõ cơn đau mà chỉ cảm giác tức nặng, khó chịu ở ngực, một số lại cảm giác cứng hàm khi gắng sức…ngược lại một số trường hợp lại có cơn giả đau thắt ngực (nhất là nữ giới). Một số ĐTNÔĐ sẽ bị đau khi gắng sức nhưng sau đó sẽ đau dần mặc dù tiếp tục hoạt động thể lực như vậy. Một số lại đau thắt ngực khi gắng những lần đầu, sau đó đỡ đau khi hoạt động với cường độ tương tự.
     Đau thắt ngực có thể có nhiều nguyên nhân gây ra và do đó cần tìm xác định khả năng đau thắt ngực do bệnh ĐMV. Cơn đau thắt ngực do bệnh Động mạch vành được đánh giá như sau:
  • Đau thắt ngực điển hình kiểu Động mạch vành bao gồm 3 yếu tố: Đau thắt chẹn sau xương ức với tính chất và thời gian điển hình. Xuất hiện khi gắng sức hoặc xúc cảm. Đỡ đau khi nghỉ hoặc dùng nitrates.
  • Đau thắt ngực ít điển hình: chỉ gồm 2 yếu tố trên.
  • Không phải đau thắt ngực/đau thắt ngực không điển hình: chỉ gồm 1 hoặc không có yếu tố nào nói trên.

Phân mức độ đau thắt ngực ổn định
Theo hội tim mạch Canada đã được thống nhất và ứng dụng rộng rãi
Độ Đặc điểm Chú thích
I Những hoạt động thể lực bình thường không gây đau thắt ngực Đau thắt ngực chỉ xuất hiện khi hoạt động thể lực rất mạnh
II Hạn chế nhẹ hoạt động thể lực bình thường Đau thắt ngực chỉ xuất hiện khi leo cao     > 1 tầng gác thông thường bằng cầu thang hoặc đi bộ dài hơn 2 dãy nhà.
III Hạn chế đáng kể hoạt động thể lực thông thường Đau thắt ngực khi đi bộ 1-2 dãy nhà hoặc leo cao 1 tầng gác.
IV Các hoạt động thể lực bình thường đều gây đau thắt ngực. Đau thắt ngực khi làm việc nhẹ, khi gắng sức nhẹ.
 
 
3. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ
Các yếu tố nguy cơ của đau thắt ngực gồm: Yếu tố thay đổi được và yếu tố không thay đổi được
3.1. Các yếu tố thay đổi được
      - Hút thuốc lá, thuốc lào
      - Rối loạn lipid máu
      - Lối sống tĩnh tại.
      - Tăng huyết áp
      - Chế độ ăn nhiều mỡ, cholesterol
      - Đái tháo đường
      - Thừa cân, béo phì.
      - Sử dụng cocaine hoặc các thuốc tương tự.
3.2. Các yếu tố không thay đổi được
      - Tuổi
      - Giới
      - Chủng tộc
      - Gia đình
      - Chẩn đoán: Chẩn đoán đau thắt ngực ổn định đòi hỏi khai thác kỹ tiền sử bệnh tật, khám lâm sàng, đo huyết áp, đánh giá mức độ cholesterol, nghe mô tả triệu chứng của người bệnh, thực hiện các xét nghiệm
      - Điện tâm đồ lúc nghỉ.
      - Nghiệm pháp gắng sức.
      - Siêu âm tim gắng sức.
      - Chụp MSCT động mạch vành: Chụp động mạch vành qua da: đưa ống thông vào chỗ xuất phát động mạch vành, đánh giá được mức độ hẹp động mạch vành, lưu lượng động mạch vành.
       - Siêu âm trong lòng mạch vành
       - Điều trị
4. Mục tiêu điều trị
      - Làm giảm tình trạng thiếu máu cơ tim và triệu chứng =>  Nâng cao chất lượng cuộc sống;
      - Ngăn ngừa tử vong và Hội chứng vành cấp => cải thiện tiên lượng bệnh;
      - Quan trọng nhất là kiểm soát các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được;
      - Thay đổi lối sống:
      - Bỏ thuốc lá, hạn chế uống rượu;
      - Tập thể dục hàng ngày (ít nhất 4 ngày/tuần), mỗi ngày 30 đến 60 phút, mức độ tập tuỳ theo khả năng gắng sức của mỗi cơ thể;
     - Chế độ ăn uống lành mạnh: tránh các chất béo no, nhiều cholesterol như mỡ động vật, phủ tạng động vật, trứng, sữa, bơ, sữa béo, hạn chế ăn mặn… khuyến khích chế độ ăn nhiều cá, rau quả;
      - Khám phát hiện và điều trị tốt các bệnh, rối loạn khác: Đái tháo đường, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, béo phì;
      - Nếu bạn thừa cân, béo phì cần lời khuyên của các bác sĩ để có kế hoạch giảm cân;
      - Uống thuốc điều trị theo chỉ dẫn của bác sĩ;
      - Tránh các bữa ăn quá no;
      - Luôn biết cách nghỉ ngơi thích hợp tránh stress, giữ thăng bằng và điều độ trong cuộc sống;
      - Một số thuốc thường được sử dụng trong điều trị ĐTNÔĐ: Nitroglycerin, Chẹn thụ thể beta giao cảm, Chẹn kênh calci, Aspirin, Statin, ức chế men chuyển.
      - Khi đã điều trị tối ưu mà bệnh nhân vẫn còn triệu chứng đau ngực có thể tiến hành chụp động mạch vành đánh giá mức độ hẹp tắc để tiến hành nong bóng, đặt stent làm thông thoáng hệ thống mạch cấp máu cho tim, hoặc phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành.
 
VIDEO
Liên kết website
Hoạt động
nothing