Loãng xương

LOÃNG XƯƠNG
1. Đại cương
     Tần suất các bệnh cơ xương khớp tăng lên cùng với tuổi trong đó loãng xương là một trong những bệnh thường gặp nhất ở tuổi > 50 do sự mất cân bằng giữa tạo xương và hủy xương trong đó quá trình hủy xương chiếm ưu thế. Các biểu hiện của loãng xương là đau dọc các xương dài, đau cột sống, gù vẹo cột sống, gãy xương... Chúng không chỉ gây nên những hạn chế vận động mà còn khiến cho người bệnh phải thường xuyên đi khám bệnh và điều trị, do vậy ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, hạn chế sự giao tiếp với xã hội và gây tổn hại đến kinh tế.
     Về định nghĩa: Loãng xương là tình trạng giảm khối lượng xương và tổn thương vi cấu trúc của mô xương gây hậu quả xương trở nên giòn và dẫn tới gãy xương.
 
 
2. Nguyên nhân loãng xương
2.1. Loãng xương nguyên phát (chiếm khoảng 80%) gồm loãng xương ở phụ nữ sau mãn kinh và loãng xương do tuổi già.
      Loãng xương sau mãn kinh là loãng xương xuất hiện sau tuổi mãn kinh trong vòng 6 hoặc 8 năm, tổn thương loãng xương nặng ở phần xương xốp do đó thường thấy các biểu hiện ở cột sống như lún đốt sống, gù, còng, gẫy đầu dưới xương quay.
      Loãng xương tuổi già xuất hiện ở cả nam và nữ, thường trên 70 tuổi với tỷ lệ nữ so với nam là 2/1. Đây là hậu quả của sự mất xương từ từ trong nhiều năm do ở người già có sự mất cân bằng giữa tạo xương và huỷ xương. Biểu hiện gãy xương hay gặp là gãy cổ xương đùi, gãy lún đốt sống do tổn thương xuất hiện đồng đều trên xương đặc (xương vò) cùng như xương xốp (xương bè).
2.2. Loãng xương thứ phát (chiếm khoảng 20%): Là loãng xương liên quan đến những bệnh lý, những yếu tố có thê gây ra hậu quả loãng xương. Kiểu loãng xương này có thể thấy ở mọi lứa tuổi.
      Những bệnh lý có thể gây ảnh hưởng đến mật độ xương: Cường giáp, sau phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp, suy sinh dục, cắt tử cung buồng trứng sớm, cắt dạ dày ruột, viêm loét dạ dày ruột, liệt nửa người, đái tháo đường, các bệnh khớp mạn tính, dinh dưỡng kém, nghiện rượu, thuốc lá... Đặc biệt loãng xương hay gặp ở những người phải điều trị kéo dài bằng glucocorticoid (dexamethasone, prednisolon, medrol..) heparin, thuốc chống co giật...
 
      Tình trạng mất xương thường biểu hiện rất âm thầm, chỉ khi trọng lượng xương mất đi 30 - 40% mới có biểu hiện trên lâm sàng như: đau dọc các xương dài, đau cột sống, gù vẹo cột sống, gãy xương, xẹp lún đốt sống... Gãy xương là một biến chứng nặng nề của  loãng xương, chúng không chỉ gây đau đớn cho người bệnh mà còn tổn hại về kinh tế thậm chí tử vong. Chính vì vậy việc chẩn đoán sớm tình trạng loãng xương là rất quan trọng.
Ngày nay để chẩn đoán sớm tình trạng giảm mật độ xương hay loãng xương người ta sử dụng phương pháp đo mật độ xương bằng hấp thụ tia X năng lượng kép (DXA) tại hai vị trí là cột sống thắt lưng và cổ xương đùi.
      Những người có những yếu tố nguy cơ của loãng xương (cao tuổi, phụ nữ sau mãn kinh, cắt tử cung buồng trứng, tiền sử bản thân và trong gia đình có người dễ bị gãy xương, nằm bất động kéo dài, trọng lượng cơ thể thấp, có bệnh lý mạn tính hoặc sử dụng những thuốc ảnh hưởng tới mật độ xương, rối loạn nội tiết tố, hút thuốc lá, uống rượu...) đều có chỉ định đo mật độ xương.
      Để chẩn đoán loãng xương không chỉ dựa vào kết quả đo mật độ xương mà cần phối hợp với các yếu tố nguy cơ của loãng xương.

4. Phòng loãng xương
      Đó là cả một quá trình, không chỉ tác động riêng một yếu tố nào mà phải phối hợp tác động nhiều yếu tố cùng một lúc, đặc biệt là những yếu tố nguy cơ gây mất xương. Phòng loãng xương đòi hỏi sự kết hợp của hoạt động thể lực, lối sống, chế độ dinh dưỡng, calci, vitamin D, hormon...
     - Calci: là thành phần chất khoáng chủ yếu cấu tạo nên khung xương. Lượng calci cung cấp cho xương phụ thuộc vào khả năng hấp thụ calci và lượng calci được đưa vào.
Calci có nhiều trong sữa và những chế phẩm từ sữa, trong cua đồng, tôm, tép, lòng đỏ trứng, các loại rau màu xanh lá cây... Ở trẻ đang tuổi phát triển việc uống sữa hàng ngày là cần thiết. Với những ngưới có yếu tố nguy cơ mất xương thì lượng calci lấy từ thức ăn nhiều khi không đủ, phải được bổ sung bằng thuốc. Nhu cầu calci mỗi ngày cho phụ nữ sau mãn kinh là 1000 - 1500 mg, cho nam giới lớn tuổi là 1000 mg.
     - Vitamin D: 1,25 Dihydroxy vitamin D (calcitriol) có vai trò quan trọng là tăng quá trình hấp thụ calci ở ruột và xương. Vì vậy, nó cần thiết cho sự trưởng thành và calci hoá bình thường của xương. Vitamin D có thể được tổng hợp qua da nhờ tiếp xúc với ánh nắng mặt trời và có thể được cung cấp qua những thức ăn như cá biển, tôm, cua, trứng, sữa, lòng đỏ trứng. Các loại cá kho nhừ, ăn cả xương cung cấp nhiều calci và vitamin. Tuy nhiên, ở những người lớn tuổi, cơ hội tiếp xúc với ánh nắng mặt trời cũng như khả năng hấp thu calci và vitamin D ở ruột kém do đó nguy cơ thiếu Vitamin D rất cao đòi hỏi phải bổ sung bằng chế độ ăn và thuốc. Nhu cầu Vitamin D là 400 - 800 UI/ ngày.
    - Phospho: Mặc dù phospho cùng là một nguyên tố rất quan trọng trong việc hình thành và duy trì khối lượng xương. Những thực phẩm chứa nhiều phospho: cá, tôm, sò biển, sữa, táo
đỏ, rau câu...
     - Protein: Protein ảnh hưởng nhiều tới mật độ xương. Thiếu hụt protein sẽ làm giảm thành phần IGF -1, đây là thành phần bảo vệ giúp duy trì mật độ xương và khối cơ. Vì vậy thiếu hụt protein kéo dài sẽ gây giảm mật độ xương và khối cơ, là những nguy cơ cao của gãy xương. Tuy nhiên, nếu ăn quá nhiều protein sẽ gây hậu quả tăng thải calci qua nước tiểu ảnh hưởng đến hấp thu calci.
     - Magnesium: cũng là một thành phần quan trọng giúp cơ thể hấp thụ và giữ lại calci. Magnesium có nhiều trong các loại hạt, ngũ cốc, hải sản, đậu, một số loại rau...
     Một chế độ dinh dưỡng quá nhiều muối cũng làm tăng thải calci qua nước tiểu. Do đó nên hạn chế ăn mặn để giúp phòng ngừa mất xương và các bệnh lý về tim mạch.
     Cùng với chế độ dinh dưỡng hợp lý, đầy đủ thì việc tăng cường hoạt động thể lực, tránh uống rượu và hút thuốc lá cũng có vai trò quan trọng đề phòng mất xương.
     Phòng tránh ngã bằng cách tập luyện để tăng độ chắc của cơ bắp, kiểm tra thị lực thường xuyên, tránh sử dụng những thuốc có những tác dụng phụ gây chóng mặt (nguy cơ ngã cao).
     Phải điều trị kịp thời những tình trạng bệnh lý có liên quan đến mật độ xương.
     Những người bị suy giảm nội tiết tố do mãn kinh sớm hoặc cắt tử cung buồng trứng nên dùng liệu pháp hormon thay thế để phòng sự mất xương.
 
5. Điều trị loãng xương
     Những người đo mật độ xương bằng phương pháp hấp thụ tia X năng lượng kép (DXA) cho kết quả loãng xương hoặc giảm mật độ xương kèm theo có ít nhất một trong những yếu tố nguy cơ loãng xương đều có chỉ định điều trị.
     Mục tiêu chính của điều trị loãng xương là phòng chống nguy cơ gãy xương do loãng xương và ngăn chặn tình trạng mất chất khoáng trong xương. Bởi vậy bên cạnh những biện pháp phòng mất xương kể trên còn phải dùng thuốc. Ngày nay có nhiều loại dược phẩm đã ra đời nhằm đem lại hiệu quả tối ưu nhất cho việc điều trị loãng xương và phòng ngừa gãy xương do loãng xương như Bisphosphonate, Teriparatide, Strontium... Vai trò của các dược phẩm này là kích thích tạo xương và ức chế huỷ xương, tái lập lại sự cân bằng giữa huỷ xương và tạo xương. Tuy nhiên, việc chọn lựa phác đồ điều trị cho mỗi người bệnh phải do bác sĩ chỉ định, không nên tự dùng thuốc hoặc sử dụng đơn thuốc của người khác áp dụng điều trị cho bản thân.
    Bên cạnh việc dùng thuốc cần lưu ý các biện pháp phòng gãy xương do loãng xương: phòng ngã (tăng cường tập luyện..), sử dụng các dụng cụ hỗ trợ (nạng, nẹp thắt lưng...).
     Trường hợp gãy cổ xương đùi hay các xương ngoại vi cũng cần được điều trị ngoại khoa hoặc bó bột như các trường hợp gãy xương không phải do loãng xương. Xẹp lún đốt sống do loãng xương có thể tạo hình lại đốt sống bằng bơm cement polymetalmetarylat vào thân đốt sống.
VIDEO
Liên kết website
Khám chữa bệnh
nothing