RỐI LOẠN LIPID MÁU

RỐI LOẠN LIPID MÁU

1. Đại cương
1.1. Lipid máu, cholesterol là gì?
      Lipid máu hay còn được gọi nôm na là “mỡ máu”, là một thành phần quan trọng trong cơ thể. Trong thực tế, lipid máu bao gồm nhiều thành phần khác nhau, trong đó quan trọng nhất là cholesterol. Sự rối loạn của giữa các loại cholesterol dẫn đến bệnh lí mà đặc trưng là xơ vữa động mạch. Có hai loại cholesterol chính là loại “tốt” (HDL-C) và loại “xấu” (LDL-C). Nếu loại xấu tăng nhiều quá hoặc mất cân đối giữa hai loại là nguy cơ gây ra các bệnh tim mạch như: nhồi máu cơ tim, tai biến mạch não... Cholesterol có từ hai nguồn: do cơ thể tổng hợp và từ thức ăn. Nguồn từ cơ thể (tổng hợp từ gan và các cơ quan khác) chiếm khoảng 75% tổng lượng cholestrol trong máu, 25% còn lại từ nguồn thức ăn. Bên cạnh đó, một thành phần khác của lipid máu cần được quan tâm là triglycerid.
     -  Rối loạn lipid máu (Dyslipidemia) là một yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được trong các bệnh lý tim mạch do xơ vữa.
    -  Có một mối liên quan liên tục, bền vững, độc lập giữa nồng độ cholesterol toàn phần (TC) hoặc cholesterol trọng lượng phân tử thấp (LDL-C) với các biến cố tim mạch do xơ vữa.
1.2.      Các loại thành phần chính của lipid máu bao gồm:
     Low Density Lipoprotein Cholesterol (LDL-C loại xấu)
     Khi lượng LDL-C này tăng nhiều trong máu dẫn đến sự dễ dàng lắng đọng ở thành mạch máu (đặc biệt ở tim và ở não) và gây nên mảng xơ vữa động mạch.      Mảng xơ vữa này được hình thành dần dần gây hẹp hoặc tắc mạch máu hoặc có thể vỡ ra đột ngột gây tắc cấp mạch máu dẫn đến những bệnh nguy hiểm như Nhồi máu cơ tim hoặc Tai biến mạch não. LDL-C được coi là một trong những chỉ số quan trọng cần theo dõi khi điều trị. LDL-C tăng có thể liên quan đến yếu tố gia đình, chế độ ăn, các thói quen có hại như hút thuốc lá, lười vận động hoặc liên quan các bệnh lí khác như tăng huyết áp, đái tháo đường…
     High Density Lipoprotein Cholesterol (HDL-C loại tốt)
     HDL-C được cho là loại tốt bởi vì nó vận chuyển cholesterol từ máu trở về gan, cũng vận chuyển cholesterol ra khỏi mảng xơ vữa thành mạch máu và do vậy, làm giảm nguy cơ xơ vữa động mạch cũng như các biến cố tim mạch trầm trọng khác. Những nguy cơ làm giảm HDL là hút thuốc lá, thừa cân/béo phì, lười vận động... Do vậy, để làm tăng HDL, bạn cần bỏ thuốc lá, giữ cân nặng hợp lí, tăng
cường tập thể dục…
     Triglycerides
     Triglyceride cũng là một dạng lipid trong cơ thể. Tăng triglycerides thường gặp ở những người béo phì/thừa cân, lười vận động, hút thuốc lá, đái tháo đường, uống quá nhiều rượu... Những người có triglycerides trong máu tăng cao thường đi kèm tăng cholesterol toàn phần, bao gồm tăng LDL-C (loại xấu) và giảm HDL-C (tốt). Hiện nay, các nhà khoa học cho thấy việc tăng triglyceride trong máu cũng có thể liên quan đến các biến cố tim mạch.
      Lp(a) Cholesterol
      Lp(a) là một biến thể của LDL cholesterol. Việc tăng Lp(a) trong máu làm gia tăng nguy cơ hình thành mảng xơ vữa động mạch. Có lẽ nó ảnh hưởng thông qua việc tương tác với một số chất khác trong quá trình hình thành vữa xơ động mạch.
     Theo khuyến cáo Hội tim mạch Quốc gia Việt Nam 2015 về chẩn đoán và điều trị rối loạn lipid máu:
     Các thành phần lipid máu thường dùng trong đánh giá lâm sàng và định nghĩa rối loạn lipid máu
     Rối loạn lipid máu khi có một hoặc nhiều các rối loạn sau:
      - Tăng Cholesterol toàn phần: ≥ 200 mg/dL (5.2 mmol/L)
      - Tăng LDL-C:  ≥ 130 mg/dL (3.4 mmol/L)
      - Giảm HDLC:  < 40 mg/dL (1.0 mmol/L)
      - Tăng Triglycerid: ≥ 200mg/dL (2.26 mmol/L)
      - Rối loạn kiểu hỗn hợp: khi tăng cholesterol kết hợp với tăng triglyceride


2. Làm thế nào để phát hiện rối loạn lipid máu

     Hầu hết những người có cholesterol máu cao đều hoàn toàn khoẻ mạnh. Bạn thường không có dấu hiệu gì báo trước và cách duy nhất để phát hiện ra bệnh là làm xét nghiệm máu. Tất cả những người lớn trên 20 tuổi nên được xét nghiệm 5 năm một lần các thành phần cơ bản của lipid máu. Các xét nghiệm nên được làm khi đói (cách bữa ăn trước ít nhất 12 giờ, bao gồm cả đồ uống có năng lượng).

3. Nguyên nhân rối loạn Lipid máu?
3.1. Nguyên nhân tăng cholesterol máu
     Do chế độ ăn
      - Ăn quá nhiều mỡ động vật.
      - Ăn quá nhiều thức ăn chứa nhiều Cholesterol (phủ tạng động vật, mỡ động vật, trứng, bơ, sữa toàn phần…).
      - Dư thừa năng lượng (béo phì).
    Do di truyền
      Thứ phát sau mắc các bệnh (Hội chứng thận hư, suy giáp…)
3.2. Nguyên nhân gây tăng triglycerid máu
      - Béo phì
      - Uống quá nhiều rượu
      - Đái tháo đường
      - Tăng TG có tính chất gia đình, dùng thuốc chẹn beta giao cảm kéo dài, thiếu hụt gen tiêu hủy lipoprotein hoặc apoprotein C-H.
3.3. Nguyên nhân, yếu tố nguy cơ gây giảm HDL-C
      - Hút thuốc lá
      - Béo phì
      - Lười vận động thể lực
      - Đái tháo đường không phụ thuộc Insulin, tăng TG, dùng thuốc chẹn beta giao cảm kéo dài, rối loạn chuyển hóa HDL..

4. Tại sao bạn cần điều trị rối loạn lipid máu?
     Khi có quá nhiều LDL cholesterol lưu thông trong máu của bạn, nó sẽ từ từ lắng đọng vào thành các mạch máu của bạn. Cùng với một số chất khác, nó sẽ hình thành mảng xơ vữa động mạch và làm lòng mạch của bạn bị hẹp dần hoặc tắc hoàn toàn. Xơ vữa động mạch là thuật ngữ được dùng để mô tả quá trình lắng đọng các chất béo, cholesterol, sản phẩm thoái giáng của tế bào, lắng đọng calci và sợi đông máu (fibrin) ở trong thành động mạch. Vấn đề nguy hiểm ở chỗ mảng xơ vữa rất hay gặp ở các động mạch nuôi dưỡng các cơ quan trọng yếu của cơ thể như động mạch vành (nuôi tim) và động mạch não.
     Xơ vữa động mạch có thể phát triển như sau:
     Mảng xơ vữa phát triển một cách từ từ gây hẹp dần lòng mạch dẫn đến thiếu máu nuôi dưỡng cơ quan một cách mạn tính và gây ra một loạt các biến cố như: bệnh mạch vành mạn tính, đau cách hồi, suy tim, giảm chất lượng cuộc sống…Thông thường thì khi lòng mạch bị hẹp dưới 50% cũng không có triệu chứng gì. Hoặc mảng xơ vữa bị nứt vỡ (bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình hình thành), gây hình thành máu cục tại chỗ có thể dẫn đến tắc mạch máu đột ngột dẫn đến các biến cố cấp nguy hiểm như: nhồi máu cơ tim, tai biến mạch não…
     Xơ vữa động mạch, RLCN nội mạc, đông máu và viêm mạn tính với lõi lipid (LDL-C)
5. Điều trị
5.1 Nguyên tắc điều trị
     -  Điều trị rối loạn lipid máu là để giảm các biến cố tim mạch do xơ vữa.
     -  Phải luôn loại trừ những nguyên nhân tăng lipid máu (tăng lipid thứ phát)
     - Việc thay đổi lối sống là vấn đề cơ bản và cốt lõi trong điều trị: chế độ ăn uống đúng; chế độ luyện tập thể dục.
     -  Chỉ định thuốc khi cần thiết.
     -  Đích điều trị dựa trên xét nghiệm và lượng giá nguy cơ bệnh nhân:
       + LDL-C là đích điều trị thứ nhất; TC là đích điều trị nếu không có các xét nghiệm khác
       + TG nên được đánh giá để điều trị khi BN rối loạn lipid máu có tăng TG
      + Non-HDL-C hoặc Apo B là đích điều trị thứ hai ở BN rối loạn lipid máu thể hỗn hợp, Đái tháo đường, Hội chứng rối loạn chuyển hóa hoặc bệnh thận mạn tính
       + HDL-C không được khuyến cáo là đích điều trị. Xác định mục tiêu điều trị (đích điều trị) nhằm vào LDL-C, sau đó có thể tính toán nhằm vào non-HDL
    -  Đích điều trị cụ thể: theo khuyến cáo
    -  Khống chế tốt các yếu tố nguy cơ tim mạch khác (nếu có): tăng huyết áp; đái tháo đường; hút thuốc lá…
5.2. Điều trị cụ thể
      A. Các biện pháp thay đổi lối sống: chế độ ăn và sinh hoạt
     -  Thay đổi lối sống (chế độ ăn, thói quen sinh hoạt và tập luyện) là bắt buộc cho mọi bệnh nhân.
     -  Bệnh nhân nguy cơ THẤP: Tất cả cần tôn trọng thay đổi lối sống.
     -  Bệnh nhân nguy cơ cao, có rối loạn lipid máu, nên có tư vấn chuyên gia dinh dưỡng.
     -  Khuyến khích sử dụng thức ăn: trái cây, rau, củ rau, hạt, đồ ăn tinh bột dạng thô, cá (đặc biệt dầu cá).
     -  Năng lượng từ thức ăn là chất béo nên < 35% tổng lượng, trong đó chất béo bão hòa < 7% và trans fats < 1% (tổng lượng chất béo).
     -  Hạn chế đồ ăn/thức uống có thêm đường, đặc biệt ở bệnh nhân có tăng TG
     -  Ở bệnh nhân bị tăng TG, cần hạn chế mỡ động vật, đường và rượu
     -  Giảm cân nặng cho những bệnh nhân béo phì. Nên bắt đầu giảm dần dần lượng calo hàng ngày, thường hạn chế ở mức 500 calo/ngày.
     -  Tập thể lực: giảm LDL-C; tăng HDL-C; giảm cân nặng, giảm huyết áp, và giảm nguy cơ bệnh mạch vành => nên tập ít nhất 30 phút/ngày và đều đặn hàng ngày.
     -  Bỏ thuốc lá, thuốc lào.
     -  Điều trị tốt các yếu tố nguy cơ khác đi kèm (nếu có).
   B.  Điều trị thuốc theo chỉ định của bác sỹ.
VIDEO
Liên kết website
Hoạt động
nothing